Hậu quả nếu chiến tranh biên giới Trung-Ấn nổ ra

Cuộc chiến giữa Trung Quốc và Ấn Độ có thể gây thiệt hại nặng nề cho hai nước và ảnh hưởng lớn tới kinh tế toàn cầu.

 Lính Trung Quốc và Ấn Độ xô xát ở biên giới.

Tờ Global Times của Trung Quốc mới đây cảnh báo sẽ nổ ra “đối đầu tổng lực” nếu Ấn Độ không rút quân khỏi cao nguyên Doklam, khu vực tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Bhutan. Giới quan sát cho rằng một cuộc chiến tranh biên giới giữa hai nước giống như năm 1962 sẽ khó lặp lại, bởi hậu quả mà nó gây ra sẽ vô cùng thảm khốc, theo National Interest.

Theo chuyên gia quân sự Kyle Mizokami, trong trường hợp một sự cố phát sinh ở vùng biên giới tranh chấp giữa hai nước không được kiểm soát tốt làm bùng lên xung đột, quân đội hai quốc gia sẽ chỉ giới hạn giao tranh bằng các loại vũ khí thông thường, không chủ trương tấn công phủ đầu bằng vũ khí hạt nhân bởi đó sẽ là kịch bản hủy diệt cho cả hai bên.

Giống các cuộc chiến hiện đại, cuộc chiến Trung – Ấn sẽ diễn ra cả trên bộ, trên biển và trên không. Biên giới trên bộ với địa hình rừng núi hiểm trở sẽ hạn chế đáng kể việc sử dụng các loại khí tài bộ binh, trong khi cuộc chiến trên không sẽ gây thiệt hại lớn nhất. Át chủ bài duy nhất giúp Ấn Độ chiếm lợi thế là hải chiến, vì điều này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế Trung Quốc.

Khi xung đột nổ ra, hai nước sẽ huy động lực lượng không quân rất lớn, khiến tính chất cuộc chiến khác xa với biến cố năm 1962. Cả New Delhi và Bắc Kinh đều sở hữu lực lượng máy bay chiến thuật lớn, đủ sức thực hiện nhiều nhiệm vụ trên chiến trường. Các đơn vị không quân Trung Quốc thuộc chiến lược khu Lan Châu sẽ tập kích bang Punjab, Himchal Pradesh và Uttarakhand, trong khi chiến đấu cơ từ chiến lược khu Thành Đô sẽ tấn công bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ.

Chiến lược khu Lan Châu sở hữu lượng lớn tiêm kích J-11 và J-11B, cùng hai trung đoàn oanh tạc cơ chiến lược H-6 và nhiều tiêm kích đánh chặn J-7, J-8. Việc không có căn cứ tiền phương ở Tân Cương khiến chiến lược khu Lan Châu chỉ đủ sức tiến hành chiến dịch tập kích đường không hạn chế nhằm vào miền bắc Ấn Độ. Trong khi đó, chiến lược khu Thành Đô sở hữu tiêm kích J-11A và J-10 tối tân, nhưng lại có ít sân bay quân sự ở khu vực Tây Tạng sát biên giới Ấn Độ.

Trung Quốc cũng có thể triển khai lực lượng tên lửa chiến lược với 2.000 tên lửa đạn đạo DF-11, DF-15 và DF-21 tới sát biên giới với Ấn Độ. Việc điều động các đơn vị tên lửa này tới biên giới phía tây giúp Trung Quốc đe dọa hàng loạt mục tiêu chiến lược của đối phương, nhưng sẽ để hở toàn bộ sườn phía đông giáp biển.

Trung Quốc có thể dựa phần lớn vào lực lượng tên lửa chiến lược. Ảnh: Arms Control Wonk.
Trung Quốc có thể dựa phần lớn vào lực lượng tên lửa chiến lược. Ảnh: Arms Control Wonk.

Trong khi đó, không quân Ấn Độ có khả năng chiếm ưu thế và kiểm soát không phận tốt hơn đối thủ.  Phi đội 230 tiêm kích đa năng Su-30MKI, 69 tiêm kích MiG-29 và hàng loạt chiến đấu cơ Mirage 2000 tỏ ra vượt trội so với máy bay Trung Quốc, ít nhất cho đến khi tiêm kích tàng hình J-20 đạt khả năng vận hành thực tế.

Ấn Độ có đủ chiến đấu cơ để tham chiến trên hai mặt trận, trong trường hợp không quân Pakistan nhảy vào tham chiến hỗ trợ Trung Quốc. New Delhi cũng bố trí nhiều hệ thống phòng không tầm trung Akash để bảo vệ các căn cứ không quân và mục tiêu giá trị cao.

Trong ngắn hạn, Ấn Độ có thể tự tin đối phó với không quân Trung Quốc, nhưng họ không có cách nào chặn đứng được cuộc tấn công bằng tên lửa hành trình của nước này. Một nửa miền bắc Ấn Độ nằm trong tầm bắn của các đơn vị tên lửa Trung Quốc ở Tân Cương và Tây Tạng. New Delhi chưa triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo hiệu quả, cũng không có khả năng tiêu diệt các bệ phóng tên lửa của đối phương.

Bộ binh sẽ không có vai trò lớn trong cuộc chiến này. Biên giới hai nước là những dãy núi, cao nguyên gồ ghề, không có cơ sở hạ tầng vận tải, khiến bộ binh cơ giới rất khó triển khai. Các đợt tấn công bộ binh quy mô lớn dễ dàng bị pháo binh chặn đứng. Hai bên sẽ tìm cách cầm chân nhau trên bộ và giành giật từng khu vực nhỏ.

Xung đột Ấn Độ – Trung Quốc nhiều khả năng được giải quyết ở trên biển. Việc kiểm soát Ấn Độ Dương giúp Ấn Độ nắm giữ yết hầu của Trung Quốc. Lực lượng tàu ngầm và chiến hạm mặt nước của Ấn Độ có thể dễ dàng cắt đứt tuyến hàng hải thương mại giữa Trung Quốc với châu Âu, Trung Đông và châu Phi. Hải quân Trung Quốc sẽ cần tối thiểu một tuần để bố trí đủ lực lượng phá thế phong tỏa này. Việc này cũng rất khó khăn khi chiến hạm Trung Quốc phải hoạt động trên khu vực Ấn Độ Dương rộng lớn, xa các căn cứ hậu cần ở đất liền.

Hoạt động phong tỏa trên biển của Ấn Độ sẽ buộc tàu hàng Trung Quốc phải chuyển hướng sang Tây Thái Bình Dương, nơi họ dễ bị hải quân Australia, Nhật Bản và Mỹ cản trở.

Trung Quốc phải nhập khẩu 87% lượng nhu cầu dầu mỏ, chủ yếu từ Trung Đông và châu Phi. Dự trữ dầu mỏ chiến lược của nước này chỉ đủ cung cấp trong khoảng 77 ngày, buộc Bắc Kinh phải tìm cách chấm dứt chiến tranh nhanh chóng.

Hải quân Ấn Độ có thể cắt đứt nguồn cung dầu trên biển của Trung Quốc. Ảnh: Jagruk Bharat.
Hải quân Ấn Độ có thể cắt đứt nguồn cung dầu trên biển của Trung Quốc. Ảnh: Jagruk Bharat.

Cuộc chiến Trung – Ấn sẽ diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng có thể để lại hậu quả nặng nề với nền kinh tế toàn cầu. “Đây có thể là yếu tố thúc đẩy hai nước tìm giải pháp đối thoại để giải quyết khủng hoảng để tránh chiến tranh nổ ra”, Mizokami nhấn mạnh.

Duy Sơn